Tìm kiếm

Hiểu một vài thuật ngữ trong báo cáo giải phẫu bệnh sau phẫu thuật UTV

Cầm kết quả xét nghiệm trên tay và ngay cả khi được bác sĩ tận tình giải thích, đôi khi chúng ta những phụ nữ vừa nhận chẩn đoán mắc ung thư vú hay thậm chí người thân của chúng ta vẫn còn bàng hoàng đau đớn, nên tâm trí không thể tiếp nhận hết thông tin mà bác sĩ truyền tải.

Bài viết này sẽ chia sẻ một vài hiểu biết cơ bản về các chỉ số và thuật ngữ kết quả giải phẫu bệnh sau phẫu thuật ung thư vú nhằm giúp bạn và người thân bình tĩnh hơn, hiểu chuyện gì đang xảy ra và kiểm soát tình hình tốt hơn.

Kết quả giải phẫu bệnh    [1]:

Sau khi tiến hành sinh thiết hoặc phẫu thuật vú, tế bào hay mô sẽ được gửi tới Bác sỹ chuyên khoa bệnh lý. Chuyên gia sử dụng kính hiển vi để quan sát tế bào hay mô và ghi kết quả vào báo cáo bệnh lý. Quá trình này thường mất vài ngày. Các thông tin trong báo cáo bệnh lý giúp bạn và bác sỹ quyết định pháp đồ điều trị tốt nhất với bạn. Bạn nên giữ một bản sao kết quả xét nghiệm.

1. Thụ thể Hoóc môn ER+ và PR+

Thụ thể hoóc môn: Là các protein trong tế bào có tác dụng liên kết hoóc môn với tế bào. Thụ thể hoóc môn có tác dụng giúp cho hoóc môn tác động lên sự tăng trưởng của tế bào.

Báo cáo cho biết ung thư vú của bạn âm tính hay dương tính với thụ thể hoóc môn. Điều này giúp quyết định xem liệu pháp hoóc môn có phù hợp với bạn hay không. Có hai loại thụ thể hoóc môn là thụ thể oestrogen và thụ thể progesterone. Nếu các tế bào ung thư của bạn có thụ thể hoóc môn thì tức là dương tính với thụ thể oestrogen (ER+) hoặc dương tính với thụ thể progesterone (PR+).

2. Tình trạng HER2

HER2: Protein có trong tế bào giúp liên kết nhân tố tăng trưởng với tế bào, là nguyên nhân của việc phân chia tế bào. HER2 cũng được gọi là HER2-neu hay c-erbB2.

Báo cáo cho biết tế bào ung thư vú có chứa thụ thể HER2 hay không. Phần này được gọi là đánh giá tình trạng HER2 của tế bào ung thư vú. Tình trạng HER2 góp phần quyết định xem bạn có phù hợp với thuốc trastuzumab (Herceptin) hay không.

3. Hạch bạch huyết

Hạch bạch huyết: Là các tuyến nằm ở vùng nách và các vùng khác của cơ thể, giúp cơ thể chống lại các nguy cơ lây nhiễm.

Báo cáo cho biết trong hạch bạch huyết ở vùng nách hoặc vùng ngực có tế bào ung thư hay không. Thường chỉ biết thông tin này sau khi tiến hành phẫu thuật vú và phục vụ cho việc xác định liệu pháp hoá trị có phù hợp hay không.

4. Biên phẫu thuật (surgical margin)

Bác sỹ phẫu thuật sẽ loại bỏ các mô ung thư và một số mô cảm quan khoẻ mạnh xung quanh vùng bệnh. Mô cảm quan khoẻ mạnh được gọi là biên phẫu thuật. Nếu trong phần mô cảm quan khoẻ mạnh không có tế bào ung thư thì có thể xem như đã loại bỏ hoàn toàn ung thư. Trong trường hợp này, biên phẫu thuật được gọi là “sạch”. Thông tin này chỉ xuất hiện sau khi phẫu thuật vú. Nếu biên phẫu thuật không được xem là “sạch” thì có thể phải tiếp tục phẫu thuật để đảm bảo ung thư đã được loại bỏ hoàn toàn.

5. Cấp độ/ độ ung thư vú – Grade

Cấp độ ung thư vú (khác với giai đoạn ung thư vú) cho biết tốc độ phát triển của tế bào ung thư. Cấp độ ung thư vú được đánh số từ 1 tới 3. Cấp độ thấp (Cấp độ 1) có nghĩa là ung thư phát triển chậm. Cấp độ 2 – trung bình, Cấp độ cao (Cấp độ 3) nghĩa là ung thư phát triển nhanh hơn.

Cấp độ/Độ (grade) cũng được hiểu là mức độ khác biệt của tế bào ác tính so với tế bào thường. Độ 1 là không khác nhiều, độ 2 là khác trung bình, độ 3 khác biệt nhất.

6. Kháng nguyên Ki-67    [2]

Kháng nguyên Ki-67 là protein nằm ở bề mặt của tế bào và khuyến khích sự sản sinh kháng thể. Ki-67 là chỉ dấu kháng thể đối với kháng nguyên khối u được tìm thấy trong tế bào ung thư vú.

Nếu khối u của bạn được làm xét nghiệm Ki67, kết quả giải phẫu bệnh sẽ cho ra chỉ số Ki-67. Chỉ số càng cao – lớn hơn 20% – có nghĩa là tế bào ung thư tăng trưởng và phân chia với tốc độ cao.

Những khối u có cấp độ/độ (grade) ung thư cao thường có chỉ số Ki67 cũng cao. Tuy nhiên, không có bằng chứng xác định rõ rằng Ki-67 có liên can đến tỷ lệ sống sót. Một vài nghiên cứu cho thấy có liên quan, nhưng cũng có những nghiên cứu khác hoàn toàn không thấy như vậy.

Một vài nghiên cứu gợi ý có một vài thụ thể hoóc môn (ER) dương tính với chỉ số Ki-67 khá cao có thể không đáp ứng tốt với tamoxifen hoặc chất ức chế aromatase. Tuy nhiên, chúng cũng không đáp ứng tốt với quá trình hóa trị.

Bạn cũng không nên lo lắng nếu kết quả giải phẫu bệnh không bao gồm các thông tin về mức độ Ki-67 của khối u. Một vài viện thực hiện xét nghiệm này, một vài nơi thì không.

Nếu bạn có làm xét nghiệm Oncotype DX  đối với khối u, thì Ki-67 là một trong 21 xét nghiệm gen được dùng để phỏng đoán nguy cơ tái phát ung thư vú tại chỗ.

7. Oncotype DX   [3]

Oncotype DX là một xét nghiệm có thể giúp nhóm bác sĩ điều trị quyết định nếu hóa trị liệu được coi như một phần của phác đồ điều trị thì có tốt hơn cho bạn hay khả năng ung thư sẽ quay trở lại trong tương lai như thế nào.

Bạn có được bác sĩ khuyên truyền hóa chất hay không phụ thuộc vào nhiều đặc điểm của ung thư như kích thước, cấp độ ung thư và liệu đã có hạch bạch huyết nào bị ung thư tấn công. Xét nghiệm Oncotype DX sẽ bổ sung thông tin vào những yếu tố nêu trên để đi đến quyết định điều trị hóa chất trong một số trường hợp.

Xét nghiệm này sẽ được thực hiện trong hoặc sau khi phẫu thuật.

8. Phân số thời kỳ S – S-phase fraction   [4] 

Phân số thời kỳ S: con số này cho bạn biết tỷ lệ phần trăm các tế bào trong mẫu là đang ở trong quá trình sao chép thông tin di truyền hoặc DNA. Thời kỳ S này (tên gọi ngắn gọn cho “thời kỳ tổng hợp”) xảy ra chỉ trước khi một tế bào phân chia thành hai tế bào mới. Kết quả dưới 6% thì được cho là thấp, từ 6-10% là trung bình, và trên 10% là cao.

Lưu ý các chỉ số Ki-67 và S-phase giúp bác sĩ có thêm thông tin trong quá trình điều trị. Các chuyên gia đầu ngành vẫn chưa tìm được sự đồng thuận trong quá trình sử dụng các xét nghiệm này trong quá trình điều trị. Do vậy, chỉ số này, chỉ số Ki-67, s-phase có thể bao gồm hoặc không bao gồm trong kết quả giải phẫu bệnh của bạn.

Chỉ số liên quan trong quá trình theo dõi và điều trị ung thư vú

9. Xét nghiệm chất chỉ dấu khối u – CA15.3   [5]

Chất chỉ dấu khối u là một dạng vật chất (substances), thường là các protein như CA15-3 và CEA, do cơ thể sản sinh ra khi phản ứng với ung thư hoặc do chính các mô ung thư sản sinh ra. Nếu chất này ở trên mức bình thường, nó có thể giúp cho việc tìm thấy vị trí của vùng di căn ung thư. Tuy nhiên, xét nghiệm này thường được dùng để xác định xem khối ung thư phản ứng với quá trình trị liệu như thế nào.

Phải nhớ rằng, xét nghiệm chất chỉ dấu khối u này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy, ví dụ như chất chỉ dẫu khối u có thể tăng lên cho dù có dấu hiệu khác cho thấy sự phản ứng của khối ung thư đối với sự điều trị; hoặc một số khối ung thư vú không hề sản sinh ra chất chỉ dẫn khối u. Vì lý do đó, một số bác sĩ chuyên khoa ung thư không dùng xét nghiệm này. Các bác sĩ khác thì dùng phương pháp này như một trong những biện pháp để kiểm tra xem sự phản ứng của khối ung thư đối với quá trình trị liệu.

BCNV 12/2013

[1] Theo tài liệu “Sổ tay hướng dẫn cho phụ nữ mắc ung thư vú giai đoạn sớm” của tổ chức Ung thư Australia

[5] Theo “Ung thư vú di căn xương: Hy vọng và Trở ngại” tài liệu hỗ trợ người bệnh của Breast Cancer Network Australia

 

BCNV cố gắng hết sức trong khả năng có thể để cung cấp những thông tin đáng tin cậy nhất cho những người Việt Nam không may mắc ung thư vú.
Tuy nhiên BCNV không thể đảm bảo hay chịu trách nhiệm hay nghĩa vụ pháp lý về tính cập nhật hay hoàn chỉnh của những thông tin này, cũng như không chịu trách nhiệm về các mất mát, tổn thương nếu có khi sử dụng thông tin trong bài viết. Tuy vậy, BCNV chào đón và trân trọng mọi góp ý mang tính xây dựng từ chuyên gia, bác sĩ, người bệnh và những người có quan tâm để bài viết chuẩn mực và có giá trị khoa học để phục vụ tốt hơn nữa cho những phụ nữ không may mắc ung thư vú, những người bị ảnh hưởng bởi căn bệnh và nâng cao nhận thức cho cộng đồng.
Chúng tôi luôn khuyến nghị người bệnh trao đổi với bác sĩ chuyên khoa về các quyết định trong quá trình điều trị của mình